Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

BÀ CHI LAN NÓI VỀ BÃI TƯ CHÍNH

BÀ CHI LAN NÓI VỀ BÃI TƯ CHÍNH VÀ KHỞI KIỆN TRUNG QUỐC

You Tube
Thứ ba ngày 27 tháng 8 năm 2019 2:02 PM

Tướng Lê Văn Cương: “KHÔNG CÓ NƯỚC NÀO KÌM HÃM VIỆT NAM NHƯ TRUNG QUỐC”

Tướng Lê Văn Cương trả lơid PV
Thứ tư ngày 28 tháng 8 năm 2019 8:04 AM


Kết quả hình ảnh cho TƯỚNG LÊ VÄ‚N CÆ¯Æ NG NÓI
(Toàn bộ nội dung trả lời phỏng vấn của Tướng Lê Văn Cương với “VietTimes”)
***
VietTimes: “Vẫn còn một bộ phận không nhỏ, kể cả một số quan chức các cấp vẫn lo sợ Trung Quốc. Khi nào mà vẫn còn tư tưởng sợ Trung Quốc thì không thể bảo vệ được đất nước và đất nước cũng không thể phát triển được”, Tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an nói.
Không có nước nào kìm hãm Việt Nam như Trung Quốc.

VietTimes: Thưa ông, việc Trung Quốc đang từng bước khống chế biển Đông, xâm phạm một cách trắng trợn lãnh thổ Việt Nam. Nếu xét về mức độ “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng” thì hành động của Trung Quốc hiện đang ở cấp độ nào?

Tướng Lê Văn Cương: Trước hết chúng ta phải nói về nhận thức về tầm quan trọng của biển Đông đối với an ninh và phát triển của Việt Nam, rồi sau đó sẽ thấy việc Trung quốc đang làm ở biển Đông thuộc cấp độ nguy hiểm nào.

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

CUỘC CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC THÁNG 2-197


Diệu An tổng hợp

Nguyên nhân sâu xa của việc tấn công Việt Nam ở biên giới phía Bắc đầu năm 1979 có phải là nhằm làm suy yếu một nước Việt Nam thống nhất?

LTS: Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước năm 1975, Trung Quốc liên tục có những động thái làm xấu đi quan hệ giữa hai nước, như cắt giảm viện trợ, thúc đẩy Hoa Kiều Việt Nam hồi hương, hay giúp Khơ-me đỏ Campuchia tiến hành chiến tranh biên giới phía Tây Nam. Như vậy, nguyên nhân sâu xa của việc tấn công Việt Nam ở biên giới phía Bắc đầu năm 1979 có phải là nhằm làm suy yếu một nước Việt Nam thống nhất?
Câu hỏi này cần phải được giải thích từ nhiều nguyên nhân, phân tích từ nhiều góc nhìn. Bắc Kinh từng lu loa họ phát động “cuộc chiến tranh phòng vệ” nhằm đem lại hòa bình cho khu vực biên giới, vốn đã trở nên hỗn loạn từ năm 1977, ảnh hưởng tới đời sống thường nhật của người dân Trung Quốc. Tuy nhiên, sau đó, ngày càng có nhiều bằng chứng được các học giả nước ngoài công bố, cho thấy Bắc Kinh có những mục đích chiến lược xa xôi, ấp ủ từ lâu.
Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 do Bắc Kinh khơi mào còn nhằm thử phản ứng của Liên Xô và qua đó đánh giá khả năng tác chiến của Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA).
Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết đầu tiên trong chuyên đề Biên giới tháng 2/1979, mời quý vị độc giả tham khảo và chia sẻ thêm các góc phân tích về cuộc chiến.
Cuộc chiến chống quân xâm lược tháng 2 năm 1979
Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước năm 1975, Trung Quốc liên tục có những động thái làm xấu đi quan hệ giữa hai nước, như cắt giảm viện trợ, thúc đẩy Hoa Kiều Việt Nam hồi hương, hay giúp Khơ-me đỏ Campuchia tiến hành chiến tranh biên giới phía Tây Nam. Như vậy, nguyên nhân sâu xa của việc tấn công Việt Nam ở biên giới phía Bắc đầu năm 1979 có phải là nhằm làm suy yếu một nước Việt Nam thống nhất?

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ


Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

(GDVN)- Nhiều người dân Trung Quốc hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị BìnhLTS: Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của bà Nguyễn Thị Bình - nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 của quân và dân ta.
Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả.
Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.
Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ.
Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17/2/1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.
Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.
Ảnh tư liệu: TTXVN

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

CÓ MỘT NGÔI ĐÌNH RẤT LẠ !


Đỗ Tiến Thụy

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời, thiên nhiên và nước
Đình, trong cơ cấu tổ chức xã hội phong kiến giông giống như trụ sở ủy ban nhân dân xã bi giờ. Và mỗi đình thường thờ một vị thành hoàng. Nhưng đình Tốt Động lại thờ những hai. Vì sao lại thế?
Mời bà con ngược lịch sử về thế kỉ 15, khi cuộc kháng Minh của nhân dân ta đang vào hồi kết, thế và lực đã nghiêng hẳn về nghĩa quân Lam Sơn với những cuộc vây thành bức hàng khiến quân Minh lâm vào thế chia cắt bị động không ứng cứu cho nhau được.
Trước tình thế ấy, tháng Mười năm 1426, vua Minh buộc phải phong cho Thái tử hoài vương hầu Vương Thông chức Chinh Di tướng quân, mang 5 vạn quân và 5 ngàn con ngựa cùng Thượng thư Bộ binh Trần Hiệp và Tham tướng Mã Anh sang ứng cứu.
Khi đến Đông Quan, Vương Thông lập tức cách chức một loạt tướng cũ, thành lập bộ chỉ huy mới, cùng với Sơn Thọ, Mã Kỳ, Phương Chính, Trần Hiệp, Lý Lượng... tổ chức một cuộc hành quân bão táp với 15 vạn người, “dài đến mười dặm, mũ giáp lòa trời, cờ tàn rợp nội, tự cho là đánh một trận có thể quét sạch quân ta”- (Lam Sơn thực lục).
Vương Thông chia quân làm hai mũi tiến công. Mũi chính với 10 vạn quân do đích thân mình chỉ huy hành quân từ Đông Quan qua Tốt Động, vòng lên đánh úp bản doanh nghĩa quân Lam Sơn đang náu trên vùng Cao Bộ (thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Tây). Hiệu lệnh hiệp đồng là “khi nào có súng hiệu là hai bên đánh thế gọng kìm vào quân ta”- (Việt sử toàn thư).

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

NGƯỜI GIỐNG CỤ HỒ ĐẾN KINH NGẠC


Thái Sinh




Phóng sự 
Ông là người dân tộc Sán Chay (còn gọi là dân tộc Cao Lan) sống trong một hẻm núi ở huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Giống như bao người nông dân miền núi khác cày ruộng làm nương rẫy, câu cá, hút thuốc lào…Cho đến một hôm người ta phát hiện ra ông giống Bác Hồ đến kinh ngạc trong một lần hội thao ông bắn nỏ bách phát bách trúng…
Tên ông là Lâm Văn Lập, người thôn Khuôn La, xã Tân Hương huyện Yên Bình. Từ QL70 vào đến nhà ông chừng một cây số, đó là con đường đất đủ cho hai chiếc xe bò tránh nhau, ngày nắng ráo thì khá, còn ngày mưa thì lầy lội rất khó đi, nhất là phải qua một con suối nhỏ mưa lớn lũ dâng cao thì phải đợi mấy tiếng đồng hồ nước rút mới qua được.
Tôi phải mấy lần nhờ anh bạn đang công tác ở Huyện Ủy Yên Bình điện hỏi thăm xem ông có ở nhà không mới đến gặp ông được. Hóa ra, mấy năm nay ông theo các con lên Lào Cai giúp chúng làm ăn, thi thoảng mới về nhà, đấy là khi vào vụ cày bừa, gặt hái ông mới có mặt ở nhà, xong việc lại đi. Sống ở Khuôn La bây giờ là hai cụ thân sinh ra ông, vì thế dù đi làm ăn ở đâu đôi ba tháng ông lại về. Ông bảo tôi: Bây giờ tôi về ở hẳn nhà, hai cụ nhà tôi tuổi cao không còn khỏe như ngày xưa nữa...

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2018

CHUYỆN VỀ ĐẶC KHU KINH TẾ


Vũ Ngọc Hoàng
Thứ tư ngày 22 tháng 8 năm 2018 10:27 AM


.Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác. Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ (Vũ Ngọc Hoàng)
.KD: Ts Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó Ban Tuyên giáo TƯ vừa gửi cho Blog bài viết này. Một bài viết chủ đề nhạy cảm- Đặc khu kinh tế- với những phân tích thấu đáo về những được mất, thành bại, nên và không nên làm xung quanh chủ đề đặc khu kinh tế.
.Các tiêu đề nhỏ, chủ Blog xin đặt để bạn đọc dễ theo dõi 
————
Đặc khu- thành công và thất bại
Chuyện đặc khu kinh tế đã bàn từ lâu, hàng chục và hàng trăm năm trước, tại nhiều nước trên thế giới và kể cả ở nước ta. Thế giới đã có hàng nghìn đặc khu kinh tế ở hơn một trăm nước. Một số đặc khu thành công, số lớn hơn thì không thành công hoặc thất bại. Họ tổ chức bao gồm 2 loại hình: Loại thứ nhất, có đơn vị hành chính riêng (của một khu). Loại thứ hai, không có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ là cho áp dụng cơ chế đặc biệt trên một vùng lãnh thổ nhất định (khác với cả nước ở bên ngoài đặc khu) tại địa điểm cụ thể nào đó. Loại thứ nhất số lượng rất ít nhưng thường mạnh mẽ hơn về cơ chế chính sách và quyền tự chủ, nhiều nơi gần giống như “khu tự trị” về kinh tế; loại thứ hai nhiều hơn, phổ biến hơn.
Ở nước ta hàng trăm năm trước đã từng có các đặc khu kinh tế. Phố Hiến ngày trước cũng là một kiểu đặc khu. Tại Hội An, cách đây khoảng 4 thế kỷ, chúa Nguyễn đã từng tổ chức một đặc khu kinh tế, và đã rất thành công tại đó vào lúc ấy. Với đặc khu kinh tế Hội An, gắn với một thương cảng quốc tế Cửa Đại sầm uất-một trung tâm giao lưu buôn bán của khu vực, nơi đây đã trở thành trung tâm kinh tế của Xứ Đàng Trong. Trung tâm kinh tế này đã đóng góp rất quan trọng về nguồn tài chính và hậu cần cho công cuộc khai khẩn hòa bình khi cư dân Đại Việt tiến dần về phương Nam để mở mang bờ cỏi và nhân đôi nước Việt.