Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

HỌC GIẢ PHAN NGỌC: TRÍ THỨC PHẢI LO LẮNG VỀ ĐẤT NƯỚC

 

Kiều Mai Sơn


VHSG- Nhà ngôn ngữ học Phan Ngọc quê ở Nghệ An, một tên tuổi hàng đầu trong giới nghiên cứu và dịch thuật nước ta đã từ trần lúc 20h40 ngày 26.8 tại Hà Nội, hưởng thọ 96 tuổi. Tưởng nhớ một bậc thầy và học giả đáng kính, VHSG xin trân trọng giới thiệu lại bài viết của nhà báo Kiều Mai Sơn về ông.

Nhà ngôn ngữ học Phan Ngọc (1925-2020). Ảnh: Phạm Long.

Dù tung hoành đủ cả các ngành văn học, ngôn ngữ, văn hóa học… song học giả Phan Ngọc luôn tự nhận mình là người sống nhỏ bé.

Công trình nghiên cứu “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” và “Văn hóa Việt Nam một cách tiếp cận mới” của ông đã được trao Giải thưởng Nhà nước đợt đầu tiên (năm 2001).

Đồng thời, ông còn là tác giả nhiều công trình xuất sắc khác: “Bản sắc Văn hóa Việt Nam”, “Văn hóa Việt Nam tiếp xúc với Pháp”, “Thức nhận về Văn hóa Việt Nam”, “Giải thích văn học bằng ngôn ngữ học”, “Thi Thánh Đỗ Phủ và một nghìn bài thơ”…

“Tôi có đạo Nho, tôi sống nhỏ bé”, ông chia sẻ với người viết bài này trong những cuộc trò chuyện trong các năm trước. Bước sang tuổi 95, như lời ông vẫn hằng nói, sức khỏe cố nhiên là không được tốt như trước. Tôi lật lại từng trang nhật ký những lần nghe ông bà kể chuyện, ngồn ngộn tư liệu về một thời đã qua.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

NHÀ VĂN THIÊN SƠN: “GIÓ BỤI ĐẦY TRỜI vượt qua những giới hạn thông thường

 

Anh Thư (thực hiện)





Thiên Sơn là nhà văn với những sáng tác đa dạng gồm cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết. Anh là tác giả bộ tiểu thuyết “Đại gia” từng gây xôn xao dư luận trong thời gian dài; từng là tác giả trẻ nhất được trao giải trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ III của hội nhà văn Việt Nam. Thiên Sơn không chỉ dấn thân vào đề tài xã hội đương đại nóng bỏng và gai góc; đề tài lịch sử hiện đại đầy bi hùng và làm sống lại những nhân vật, sự kiện chìm lấp trong thời gian; anh còn dành sự quan tâm đặc biệt đến những phận người đau khổ và tái hiện trên những trang viết bằng cảm xúc sâu lắng. Dân Việt đã có cuộc trò chuyện với anh về tác phẩm tiểu thuyết lịch sử “Gió bụi đầy trời” mới ra mắt và được bạn đọc rất quan tâm. Gió Bụi Đầy Trời mới ra mắt giữa tháng 8 vừa rồi, lôi cuốn độc giả vì tính chất lịch sử hỗn loạn, phức tạp và gay cấn của thời kỳ 1945 - 1946, những vấn đề này được anh khắc hoạ rõ nét, sống động và chân thực. Anh có thể chia sẻ gì về "đứa con tinh thần" mà anh đã dành nhiều năm tâm huyết? TS: Tôi muốn làm mới cách nghĩ của người đọc về lịch sử, bù lấp những khoảng trống mà các sử gia không thể đề cập đến, dựng lên một bức tranh lịch sử rộng lớn và bi hùng về một giai đoạn cực kỳ quan trọng của lịch sử hiện đại. Có thể nói, lần đầu tiên trong một cuốn tiểu thuyết Việt Nam cùng xuất hiện những nhân vật lớn nhất ở các xu hướng chính trị khác nhau, đối lập nhau: phía các nhà lãnh đạo Việt Minh như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Huỳnh Thúc Kháng; phía Việt Nam quốc dân đảng có Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh; Việt Nam độc lập đồng minh hội có Nguyễn Hải Thần; phía chính quyền Nam triều có vua Bảo Đại, thủ tướng Trần Trọng Kim; phía quân đội Trung Hoa có tướng Lư Hán, Tiêu Văn; phía Pháp có Jean Sainteny, Georges Thierry d'Argenlieu, Leclerc... 

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

ĐI TÌM DỊCH GIẢ TRẦN DẦN

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Hình ảnh có thể có: 1 người, ảnh cận cảnh

Có một lời đề từ trong một cuốn sách dịch cứ đóng xích trong tâm tư tôi suốt mấy chục năm ròng, không chỉ vì nội dung độc đáo mà còn vì thân phận đặc biệt của nó: “Tôi tặng cuốn sách này cho những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh, mà chết đói” - Juyn Valex (Cậu Tú, Nxb Văn học, 1974).

Cả bộ ba tiểu thuyết dịch Jăc Vanhtrax (trilogie) gồm: “Chú bé”, “Cậu Tú”, “Người khởi nghĩa” của nhà văn Pháp Juyn Valex tôi đã mua được trong lần đi coi thi tốt nghiệp phổ thông trung học tại huyện Sông Mã (Sơn La), ở một hiệu sách mà chỉ giáo viên cấp III phố huyện mới là khách thường xuyên. Ban ngày coi thi (mà số giám thị còn đông hơn thí sinh), buổi tối ngồi tán gẫu bên bếp lửa với anh em giáo viên tập thể nhà trường, tôi có đem khoe bộ sách mới mua được và thắc mắc với bạn đồng nghiệp: “Vì sao cả ba cuốn sách đều không đề tên người dịch, trong khi đó thì lại có tên của người làm bìa sách?”


Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

TIẾNG VIỆT KỲ DIỆU (2) (tiếp kỳ trước)

 

Nguyễn Hải HoànhTất cả Từ điển tiếng Việt - Apps on Google Play


























Nhờ có chữ Nho, dân tộc ta đã ra khỏi thời kỳ tiền sử, tiến sang thời đại văn minh có chữ viết để ghi sử sách, tiếp thu nền văn hóa Trung Hoa, tổ chức hệ thống chính quyền, xã hội... theo mô hình mới trong mấy nghìn năm.

Tuy vậy chữ Nho có nhược điểm không ghi âm được tiếng Việt, không thể dùng để nói, chỉ dùng để viết, không phản ảnh được ngôn ngữ bình dân, vả lại chỉ tầng lớp quan lại và trí thức mới biết chữ Nho. Vì vậy phạm vi sử dụng chữ Nho rất hạn hẹp.

Để sửa nhược điểm không ghi được tiếng Việt của chữ Nho, sau khi nước nhà giành độc lập, vào khoảng thế kỷ XII tổ tiên ta đã làm một thử nghiệm táo bạo về ngôn ngữ: sáng tạo chữ Nôm có yếu tố biểu âm và biểu ý, ghi được âm tiếng Việt.

Chữ Nôm mượn tự hình chữ Hán để ghi tiếng Việt, vì thế phải biết chữ Hán mới học được chữ Nôm, do đó phụ thuộc Hán ngữ và khó phổ cập. Hơn nữa các triều đại phong kiến ở ta (trừ triều đại nhà Hồ và nhà Tây Sơn) do mù quáng sùng bái chữ Hán mà coi thường và cản trở phát triển chữ Nôm, không công nhận là chữ viết chính thức, chỉ coi là chữ viết của dân thường, vì thế chữ Nôm chưa được hoàn thiện, âm đọc chưa chính xác.

Tuy vậy, do chữ Nôm thể hiện ý thức độc lập dân tộc, lại có thể thể hiện được lời ăn tiếng nói và nỗi lòng của tầng lớp bình dân, cho nên từ thế kỷ XV nhiều nhà thơ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương v.v... đã hăng hái dùng chữ Nôm sáng tác, tạo dựng được một nền văn học chữ Nôm có bản sắc dân tộc, trội hơn hẳn văn học chữ Nho, mở ra một thời đại phát triển rực rỡ nền văn minh Việt.


Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

TIẾNG VIỆT KỲ DIỆU (1)

 

Nguyễn Hải Hoành


Hai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc thuộc, nước ta bị Hán hóa toàn diện, các khác biệt bị xói mòn rất nhiều, kể cả về huyết thống. Không ít người Hán sang Việt Nam định cư, lập dòng tộc ở ta; dần dần họ đều bị người Việt đồng hóa, và đều chống lại sự xâm lược của TQ. Hiện nay một số dòng họ ở ta tự nhận có gốc TQ, như họ Hồ có thủy tổ là Hồ Hưng Dật quê Chiết Giang TQ (xem: Cổng Thông tin họ Hồ Việt Nam). Có ý kiến cho rằng những họ khoa bảng nổi tiếng giỏi chữ Hán là có gốc TQ. Dù thế nào đi nữa, dân tộc ta vẫn giữ được một khác biệt căn bản nhất với dân tộc Hán –– ngôn ngữ, trước tiên là tiếng nói, sau đó là chữ viết, như trình bày dưới đây.

Có thể nói ngôn ngữ là thế mạnh độc đáo của nòi giống Việt; không có ưu thế đó, dân tộc ta không thể nào thoát khỏi thảm họa bị Hán hóa sau hơn nghìn năm Bắc thuộc. Tiếng Việt tiềm ẩn những đặc điểm kỳ diệu nào đó mà chúng ta chưa thấy hết. Tiếc thay vẫn có người đơn giản cho rằng tiếng Việt có gốc tiếng Hán. Tâm lý tự ti ấy cản trở việc nghiên cứu các thành tựu ngôn ngữ của tổ tiên ta, khiến chúng ta chưa đánh giá đúng mức các thành tựu đó, dẫn đến cách dùng tiếng Việt tùy tiện cẩu thả, khác xa thái độ của tổ tiên ta đối với chữ Nho. Hãy xem người Hàn Quốc tôn sùng chữ Hangul biểu âm do họ tự sáng tạo (năm 1443) như thế nào: Nước họ có riêng một ngày hội kỷ niệm chữ Hangul. Chữ Quốc ngữ của ta tuyệt vời như thế mà cho tới nay chưa được tôn vinh xứng đáng. Nghĩ mà xấu hổ, trong khi ai cũng nói dân tộc ta có bốn nghìn năm văn hiến.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2020

PHÁT TRIỂN NGHỊCH LÍ Ở VIỆT NAM

 

Nguyễn Quang Dy



“Cơ đồ ta xây dựng 75 năm nay sụp đổ hay không cũng do mình, ta không làm tốt thì tự ta lật đổ ta”. (Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư, 25/12/2019).

Phát triển là một nhu cầu khách quan và tất yếu của xã hội loài người. Nhu cầu đó càng cấp bách tại các nước đang phát triển như Việt Nam. Sau khi đổi mới “vòng một”, Việt Nam phát triển với tốc độ cao vào loại “nhất nhì khu vực”. Theo báo chí tuyên truyền, Việt Nam có nhiều thành tích đứng đầu, làm thế giới khâm phục. Phải chăng đó là bệnh thành tích?

Việt Nam càng phát triển nhanh thì đất nước càng tụt hậu, mà vẫn chưa công nghiệp hóa. Trong khi tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến cạn kiệt và môi trường bị xâm hại nặng nề thì Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”. Trong khi một số đại gia đã trở thành tỷ phú thì đa số người dân nghèo đi. Phải chăng đó là nghịch lý phát triển?

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Việt Nam theo “mô hình không chịu phát triển”. Nói cách khác, phát triển ở Việt Nam không theo đúng quy luật. Đây là một vấn đề cần đặt ra không chỉ cho các chuyên gia kinh tế hay các quan chức chính phủ, mà còn cho toàn xã hội. Muốn phát triển bền vững, Việt Nam phải đổi mới thể chế. Trong khi chờ các chuyên gia kinh tế lý giải về nghịch lý phát triển của Việt Nam, hãy điểm qua vài vấn đề nổi cộm.


Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

ẤN TƯỢNG NGUYỄN QUANG THIỀU

 


Hữu Thỉnh




Bài viết của tôi có thể có một cái tên khác: Tôi thay đổi thói quen để tiếp nhận Nguyễn Quang Thiều. Không có cái gì tương đối như là tiếp nhận văn chương. Bởi vì tiếp nhận văn chương nó gắn với chủ thể, với sở thích, với tâm trạng, với hoàn cảnh, với những trải nghiệm riêng… Thay đổi thói quen trong tiếp nhận văn chương là tôn trọng những cái khác biệt, tìm đến những vẻ đẹp bổ sung hướng tới đa dạng hóa đời sống thơ ca của chúng ta. Một nỗ lực văn hóa vượt ra ngoài mọi sự khen chê. Tôi có lẽ là một trong số người thuộc Thiều nhất, cả về đời sống cả về thơ ca. Và tôi đinh ninh từ thời cùng làm việc ở báo Văn nghệ, thế nào rồi cũng phải viết về Nguyễn Quang Thiều.